Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

6 cách giảm nhức mỏi mắt khi dùng máy tính

Nếu phải làm việc trên máy vi tính suốt ngày, bạn nên chú ý đến những triệu chứng sau.
Đau mỏi mắt do sử dụng máy vi tính đã trở nên một trong những căn bệnh phổ biến của giới văn phòng. Triệu chứng bao gồm đau đầu, hoa mắt, mệt mỏi, làm việc kém, hay nhẹ hơn là như mắt bị khô rát, co giật.
Sau đây là 6 bước đơn giản giúp bạn làm giảm chứng đau mỏi mắt do sử dụng máy vi tính:
Ánh sáng và độ chói
·  Giảm độ sáng quá mức của ánh mặt trời hoặc nguồn sáng quá mức trong phòng.
·  Đặt vị trí của màn hình sang bên cạnh thay vì đằng trước hay đằng sau cửa sổ.
·  Giảm nguồn sáng quá mức trong phòng bằng cách giảm bớt bóng đèn, hoặc dùng các loại đèn có công suất thấp hơn.
Loại màn hình vi tính và cách hiển thị 
·  Màn hình LCD giúp mắt dễ chịu hơn và thường được trang bị lớp chống phản quang trên bề mặt..
·  Điều chỉnh độ sáng hiển thị sao cho xấp xỉ với độ sáng xung quanh nơi bạn làm việc. 
Chớp mắt
Chớp mắt giúp giữ được hơi ẩm trên bề mặt đôi mắt, làm giảm sự khô và rát mắt. Khi làm việc với máy vi tính người ta thường chớp mắt ít hơn 5 lần so với bình thường.
Máy điều hòa trong phòng làm việc là nguyên nhân làm bay hơi nước mắt, vì vậy càng làm tăng nguy cơ về tình trạng khô mắt.
Hãy cố gắng chớp mắt đều đặn.
Nếu bạn từng bị chứng khô mắt, hãy thử dùng nước mắt nhân tạo trong suốt giờ làm việc.
Tập thể dục cho mắt
Để giảm nguy cơ cơ mắt bị hướng căng lên (một tình trạng điều chỉnh co thắt của cơ mắt) sau một thời gian dài làm việc trước máy vi tính, hãy thử những bài tập sau:
Nhìn vào một vật ở xa (cách khoảng 6 mét) trong 10 đến 15 giây, sau đó tập trung vào một vật ở gần (cách khoảng 40cm) cũng trong 10 đến 15 giây, rồi lại nhìn vào vật ở xa ban đầu. Lặp lại động tác này trong khoảng 1 phút và ít nhất mỗi ngày 3 lần.
Cho mắt nghỉ ngơi
Để giảm nguy cơ đau mỏi mắt khi làm việc liên tục trên máy bạn hãy tránh nhìn vào máy ít nhất 20 phút một lần và tập trung vào một vật ở xa cách khoảng 6 mét trong ít nhất 20 giây.
Nhìn vào khoảng xa giúp nhóm cơ mắt thư giãn và làm giảm đau nhức cho đôi mắt bạn.
Rời khỏi máy vi tính khoảng 15 phút để nghỉ ngơi không những làm giảm sự khó chịu và đau nhức cho mắt mà còn giúp làm tăng hiệu quả làm việc.
Trong thời gian nghỉ ngơi này bạn hãy đứng dậy, đi lại và duỗi cánh tay, chân, lưng, cổ và vai để giảm nhức mỏi, căng thẳng cho cơ bắp. 
Điều chỉnh vị trí máy vi tính
Để giảm đau mỏi mắt, hãy điều chỉnh khoảng cách giữa bạn với màn hình ( ít nhất 60 cm)
Điều chỉnh độ cao bàn ghế cho phù hợp. Màn hình phải thấp hơn mắt bạn và chếch một góc 10 đến 15 độ để ở vào đúng vị trí phù hợp cho đầu và cổ.
Người ta cũng khuyên rằng, bạn nên thường xuyên thăm khám mắt định kỳ là điều quan trọng nhất giúp ngăn ngừa và làm giảm các vấn đề về thị giác gây ra bởi máy vi tính.
Để đạt được sự dễ chịu tối đa khi làm việc trên máy vi tính, bạn nên nhờ các chuyên gia khúc xạ làm một cặp kiếng chuyên dùng khi làm việc trên máy cho riêng bạn.
Mang kiếng sát tròng không phải là điều lý tưởng khi làm việc trong văn phòng, bởi kiếng rất dễ bị khô và không còn dễ chịu cho người mang sau một thời gian dài làm việc trên máy tính.
Tổng hợp theo ấn phẩm Women's Health

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

CẢM LẠNH VÀ CÁC HẬU QỦA BIẾN CHỨNG




 Cảm lạnh là một một bệnh rất thông thường. Nhưng ngoại trừ một số dấu chỉ quen thuộc như sổ mùi, tịt mũi, nhức đầu, người gai gai sốt, khó chịu ai cũng biết, cảm lạnh thường khiến cho nhiều cơ phận khác bị suy yếu và gây ra một số bệnh, mà các bác sĩ tây y và cả đông y cũng không khám ra, không biết lý do tại sao, vì không có các vết nội thương ngoại thương, cũng không có vi khuẩn và không có cơ phận nào bị hư hỏng. Tuy không biết là bệnh gì nhưng các bác sĩ vẫn cho thuốc, thường là thuốc giảm đau, càng uống càng không khỏi, lâu ngày bị mất trí nhớ, loét bao tử, hư thận và khiến cho hệ thống thần kinh bị tê liệt. Cảm lạnh thường gây đau nhức tứ chi mình mẩy đến tê bại không cử động được, nên có bác sĩ cho là hệ thần kinh bị hư và để nghị giải phẫu...
I. Lý do

1. Trời mưa, trời gió hay trời lạnh mà mặc không đủ ấm, đầu không đội mũ, chân không đi giầy, không mang tất ấm, cổ không quấn khăn vv... vì thế các cơ phận thuộc bộ máy hô hấp (mũi, miệng, cổ họng, phổi... ) và tuần hoàn (tim, dạ dầy, ruột, gan, thận, lá lách...) bị lạnh. Khí âm xâm nhập nhiều qúa làm mất thế quân bình trong cơ thể, gây bế tắc kinh mạch, và suy yếu các cơ phận.

2. Ngồi trúng chỗ có luồng gió (ở tư gia, trong nhà thờ, nhà hội có mở cửa trước cửa sau, hay cửa ngang hông, trong xe mở cửa kính hay máy lạnh qúa vv... ) có thể đưa đến chỗ bị cảm.
3. Đặc biệt tại những vùng sáng sớm và ban chiều trời lạnh, nhưng ban trưa trời nóng (điển hình như California, Texas... ), có rất nhiều người bị cảm lạnh, vì không để ý, mặc không đủ ấm khi đi làm ban sáng và về nhà lúc chiều tối. Cứ thế, khí âm nhập vào người mỗi ngày một chút, và từ từ khiến cho cơ thể bị suy nhược và sinh ra nhiều triệu chứng mà không biết là bệnh gì.
II. Một số triệu chứng thông thường dễ nhận ra
Các triệu chứng bình thường dễ nhận ra:

1) Sổ mũi, tịt mũi

2) Nhức đầu, nặng đầu
3) Ho
4) Cảm thấy người vừa nóng vừa lạnh: hơi sốt hay sốt nặng (khi có vi khuẩn gọi là bệnh cúm)
5) Bần thần, mỏi mệt trong người
Nhưng chính vì khí âm xâm nhập thân thể, khiến bế tắc kinh mạch, máu huyết và làm suy yếu các cơ phận hô hấp và tuần hoàn, nên cảm lạnh làm nảy sinh ra nhiều triệu chứng, mà cả các bác sĩ cũng không biết và không ngờ tới.

1) Trằn trọc, khó ngủ ban đêm

2) Ngủ không thẳng giấc, đi tiểu lắp nhắp ban đêm, hay bị chuột rút
3) Đổ mồ hôi ban đêm
4) Đầy bụng, khó tiêu
5) Nhất là đau và nhức mỏi trong người: đặc biệt là hai cánh tay, cổ, bả vai, sống lưng, đầu gối, hai chân và hai bắp chân.
6) Nhiều khi có cảm tưởng như bị đau nhức thần kinh hay từ trong xương, đến độ bị bại xuội, cổ không quay được, không giơ hay co tay chân lên được, không cúi xuống được hay không thể mặc và cài cúc áo quần vv....
- Đi khám bác sĩ, chụp phim thì không có cơ phận nào bị hư hại hay tật bệnh gì. Các bác sĩ chỉ biết cho thuốc giảm đau, bệnh nhân có cảm tưởng giảm đau nhức, nhưng càng uống càng tệ hại thêm, vì người ngày càng bần thần, mỏi mệt và đau nhức hơn. Thuốc giảm đau, thuốc ngủ sinh ra bệnh mất trí nhớ, đau bao tử và đau thận...
7) Tức ngực, nhói ngực, khó thở, hụt hơi
8) Nghẹt tim, tim hồi hộp, ngộp thở, hay có cảm tưởng bị bệnh tim
9) Khó tiêu, táo bón, nặng bụng, ở chua
10) Đau bụng lâm râm
11) Tiêu chảy
12) Đau tức bên hông phải trên vùng gan,
13) Đau tức bên hông trái trên vùng lá lách
14) Teo tĩnh động mạch trên đầu (dẫn tới chỗ đau đầu và bị tai biến mạch máu não vì lượng hồng huyết cầu và dưỡng khí không lưu thông đủ để nuôi óc)
15) Da mặt xanh xao, tái mét hay thâm, và người lúc nào cũng cảm thấy bần thần, mệt mỏi như mất hết sức lực, chán nản, buồn sầu, chỉ muốn đi nằm, không muốn làm gì, và không làm được gì, vì người lúc nào cũng một mỏi.
- Đi khám bac sĩ, thử máu, thử phân, thử nước tiểu, chiếu điện, thì không tìm ra bệnh gì, và ai cũng bảo là bệnh giả đò.
16) Trẻ em bị cảm lạnh thì khó ngủ, hay ói sữa, biếng ăn, táo bón (hai ba ngày mới đi một lần, mà phải dùng thuốc, phân hôi), tiêu chảy, hay khóc, quấy, da không trắng và hồng hào, nhưng tái mét, khi khóc thì tím ngắt mặt mũi chân tay và không dỗ được.

- Tất cả các triệu chứng trên đây đều có thể do cảm lạnh mà ra, đặc biệt các trường hợp đau nhức số 5, trường hợp số 15 và số 16 là dấu chứng đã bị cảm lạnh từ rất lâu, chứ không phải các cơ phận bị hư hại.

- Khi bị cảm lạnh, phần nào trong cơ thể yếu thì phần đó thường dễ bị ảnh hưởng.
- Có nhiều người bị cảm lạnh hàng chục năm mà không biết, đi khám hết mọi bác sĩ tại mọi nhà thương nổi tiếng và uống biết bao nhiêu thứ thuốc, mà vẫn không khỏi bệnh. Và các bác sĩ vẫn không biết chính xác là bệnh gì, kể cả các bác sĩ dông y và châm cứu. Đây là các trường hợp bị đau nhức (số 5) và người mất sắc, bần thần, kiệt sức (số 15) và trẻ em (số 16).
III. Cách chữa

Có nhiều cách chữa

Bình thường có thể cạo gió.
1) Cách cạo:
- Dùng đồng bạc hay tốt nhất là cái thìa lớn (nếu bằng bạc nguyên chất càng tốt) cạo gió bằng dầu nóng (bất cứ loại nào cũng được) nhưng tốt nhất là long não pha với dầu ô liu,
- Tỳ mạnh đồng bạc sát xuống da,
- Cạo chậm rãi và kéo đường càng dài càng tốt,
- Như thế sẽ ít đau và không trầy da.
2) Chỗ cạo: khắp nơi trên người
- Cạo: cổ, gáy, trán, trên đầu, hai thái dương, bả vai, bên trong bên ngoài hai cánh tay, mu bàn tay, ngón tay, lưng, ngực, bụng, bụng dưới, mông, bên trong bên ngoài đùi, chân, bắp vế và mu bàn chân, ngón chân.
3) Cạo gió rất khoa học nhưng ông bà cha mẹ chúng ta không giải thích nên mình không hiểu. Thật ra:
- cạo gió là đả thông kinh mạch để cho khí huyết lưu thông đều đặn trở lại
- tái lập thế quân bình cho cơ thể
- dầu nóng tăng khí dương,
- đồng bạc hay cái thìa, tức chất kim khí, rút khí âm trong người ra.
Cạo gió xong là tự nhiên hết các triệu chứng kể trên và khỏi bệnh, thường là ngay tức khắc.

- Chỉ khi bị cảm (cảm nắng cũng như cảm gió và cảm lạnh) cạo da mới đỏ hay có hột và bầm tím nếu bị cảm nặng từ lâu. Càng bị cảm lâu càng bầm. Nhưng chỉ vài hôm sau là các vết đỏ và bầm sẽ biến đi.

Vì thế nói cạo gió vỡ mạch máu da là không đúng. Ngày nay nhiều bác sĩ Mỹ cũng bắt đầu tin, vì người ta đã cạo ngay trước mặt cho bác sĩ thấy.

- Tuy nhiên vì sống tại Tây Âu có nhiều người không quen hay chưa cạo gió bao giờ, nên sợ đau hay sợ bị dị nghị, mà quên đi hay khinh thường cách chữa bệnh rất hữu hiệu này của ông bà cha mẹ.
4) Cách pha long não với dầu ô liu:

- 100 gr bột long não nguyên chất đã tán sẵn mua ở tiệm thuốc bắc (không phải long não bỏ quần áo hay giết gián)

- pha với 1 lít dầu ô liu (dầu trộn sà lát loại nào cũng đựợc)
- bình thường các tiệm thuốc bắc bán bịch 1 pound long não (10 US$), thì pha với 1 galon dầu ôliu, rồi chia nhau.
- Dầu ô liu pha với long não còn có thể dùng để thoa bóp, chữa trặc hay sưng chân tay và thấp khớp rất công hiệu.
Xông với nước lá

- nấu một nồi nước lớn với lá sả, lá cây dầu huynh diệp, lá chanh, lá cam, lá quít, lá bưởi hay ngải cứu vv...

- trước khi trùm chăn xông trong phòng kín gió, thì bỏ thêm 10-20 gr bột long não, nếu có (thường tiệm thuốc bắc có bán bịch lá xông có thêm gói bột long não nhỏ)
- xông xong, lau mồ hôi khô, và mặc quần áo ấm ngay rồi uống vài viên thuốc cảm với nước trà gừng nóng, đắp chăn nằm nghỉ hay ngủ được một giấc, sẽ thấy người khỏe ngay.
Vì khi xông chảy mồ hôi nhiều nên cơ thể mất nhiều muối đạm, do đó cần phải cẩn thận, kiêng ra ngoài, để đừng bị lạnh trở lại.
Đánh cảm bằng cám rang

- lấy cám bỏ vào chảo rang nóng lên
- bỏ vào miếng vải túm lại
- rồi vuốt từ trên đỉnh đầu vuống xuống
- vuốt khắp nơi trong người: đầu tóc, mặt, ngực, bụng, cơ quan sinh dục, lưng, mông, đàng trước đàng sau tay chân, lòng bàn tay bàn chân và ngón tay ngón chân...
Cảm nặng thì phải rang 2, 3 mẻ và vuốt vài lần sẽ đỡ ngay, vì mọi kinh mạch đều được đả thông và khí huyết di chuyển bình thường trở lại.
Đánh cảm bằng gừng

- 100 gr gừng giã dập

- túm vào một chiếc khăn hay vải mỏng
- nhúng vào một bát rượu mạnh (rượu đế, volka vv...)
- vuốt từ đỉnh đầu xuống cả người phía trước: mặt mũi, ngực, bả vai, cánh tay bên trong bên ngoài, lòng và mu bàn tay, rồi các ngón tay, bụng, bắp vế xuống cho tới lòng và mu bàn chân và các ngón chân, phía sau: đầu, ót, gáy, lưng, mông xuống cho tới lòng bàn chân và các ngón chân.
Đánh cảm bằng trứng gà và đồng bạc nguyên chất (pure silver coin)

- luộc 5-7 trứng gà chín lên (18 phút thì trứng chín), luôn để nước sôi

- bóc vỏ, bổ đôi, bỏ lòng đỏ
- nhét đồng bạc nguyên chất vào giữa
- túm vào khăn hơi dầy một chút để khỏi bị xước da
- rồi cứ thế vuốt từ trên đỉnh đầu xuống y như đánh cảm bằng cám và gừng
- vuốt cho tới khi nào trứng hoàn toàn nguội mới thay trứng và thay đồng bạc khác.
Nếu bị cảm nắng, thì đồng bạc mầu đồng.
Nếu bị cảm lạnh, thì đồng bạc mầu đen, càng cảm lạnh nặng càng đen.
Nếu bị cảm gió nữa thì đồng bạc mầu đen nhánh có sắc xanh. Nếu vừa cảm nắng vừa cảm lạnh, thì đồng bạc có cả hai mầu.

1) Tùy trường hợp nặng nhẹ, có thể đánh từ 4 trứng trở lên. Bình thường mỗi lần đánh khoảng 4-5 trái là được. Để tránh bị lạnh trở có thể đánh đầu, ngực và lưng trước, rồi mặc áo, che khăn hay đắp chăn, sau đó mới đánh tới phần dưới của cơ thể. Nếu muốn đánh một lần cho cả phía trước hay phía sau, thì lấy chăn đắp phần thân thể đã đánh rồi hay chưa đánh.

2) Đặc biệt là trường hợp 5 và nhất là 15, có khi phải đánh tới 40-50 hay hàng trăm cái trứng. Nghĩa là đánh làm nhiều lần, cho tới khi nào cảm thấy người dễ chịu, khỏe khoắn, da dẻ hồng hào trở lại thì thôi.
3) Trẻ em bị cảm (đặc biêt các em nhỏ) chỉ nên đánh cảm bằng trứng. Trường hợp các em được vài tháng, nếu sợ bỏng da, có thể đánh cảm bên ngoài áo cũng được. Nhưng nếu bọc trứng trong một khăn dầy vừa đủ sễ không sao.
4) Cũng có thể để nguyên vỏ trứng, để có nhiều sức nóng hơn, nhưng phải dùng loại khăn rửa mặt hơi dầy, để khỏi bị vỏ trứng làm xước da.
5) Đánh cảm bằng trứng hơi tanh. Nhưng sau đó không được tắm. Chỉ nên dùng lotion hay chút dầu thơm pha chút nước nóng, nhúng khăn lau sơ người thôi.
6) Đặc biệt trường hợp số 15 và khi bị thương hàn, tức cảm lạnh ngấm tới xương, thì phải đánh cảm bằng trứng và đồng bạc (vì cạo gió, bấm huyệt thoa bóp chỉ bớt chứ không khỏi).
7) Đồng bạc bị đen bỏ vào một cái chén bên dưới lót một miếng giấy bạc rồi đổ nước sôi lên, đồng bạc sẽ trắng trở lại ngay và dùng để đánh tiếp.
Cách mua hay đặt đồng bạc đánh cảm:

1) Ai có thân nhân nhân ở Việt Nam có thể nhờ họ đặt cho mươi đồng bạc đánh cảm tại các tiệm bán vàng bạc (mỗi đồng khoảng 4-5 US$ làm hình bầu dục theo hình trái trứng là tiện nhất, vừa dùng để đánh cảm vừa dùng để cạo gió rất tốt)

2) Dễ nhất là vào Internet để mua và trả qua credit card ngay tại Mỹ. Họ sẽ gửi tới tận nhà. Mấy gia đình chung nhau, vì mỗi sét có 20 đồng 1 dollar lớn và dầy. Đồng 1 dollar lớn này có thể đánh được 2-3 trứng mới đen hết đồng bạc.
Silver Rounds Medaillon ** 999 Pure Silver One Ounce 34.50 US$
htttp://www.goldmastersusa.com/silver coins.asp
6. Giác, lẩy (thường phức tạp hơn, vì cần có bộ đồ nghề và không công hiệu bằng các cách kể trên, vì chỉ hạn chế vào một số nơi có bắp thịt).

- Giác bằng alcool hay rượu mạnh, nếu không khéo có thể bị bỏng da.

- Giác bằng hơi tránh được ngy hiểm này, nhưng phải có bộ đồ nghề.
- Nếu biết lẩy có thể nặn máu bầm ra, nhưng phải cẩn thận để không bị nhiễm trùng.
IV. Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Vì cảm lạnh có thể gây ra các hệ lụy nguy hại tới các cơ phận trong người như thế nên chúng ta phải cẩn thận.

1. Luôn mặc ấm áp khi đi làm hay đi lễ ban sáng và về nhà lúc chiếu tối
2. Đầu đội mũ, trùm khăn
3. Giữ hai vai, vùng thận và chân ấm (đi vớ, cả khi ở trong nhà)
4. Khi có các triệu chứng kể trên, cứ áp dụng mấy cách chữa bệnh trên đây của ông bà cha mẹ, trước khi đi khám bác sĩ.
Trong các năm qua tôi đã từng chữa bệnh cho hằng trăm người và đoán bệnh ít khi sai. Thí dụ một người bị tiêu chảy suốt 3 năm đi khám bác sĩ tại nhiều nhà thương khác nhau và uống bao nhiêu thuốc nhưng không khỏi. Các bác sĩ không tìm ra lý do. Sau khi cạo gió bụng, lưng và ngực, bệnh tiêu chảy dứt ngay. Một người khác ăn lương tàn tật 2 năm vì không thể giơ hai tay lên được và đau nhức không thể lái xe được. Đi khám tại nhiều nhà thương nhưng các bác sĩ không biết bệnh gì, chỉ cho uống thuốc giảm đau và đoán là thần kinh bị hư nên đề nghị mổ. Sau khi cạo gió hai cánh tay và lưng xong là hết đau nhức và hai tay cử động bình thường ngay lập tức. Một người khác nữa bị đau đầu gối 3 tháng, đi khám các bác sĩ, chiếu điện nhiều lần cũng như uống nhiều thứ thuốc, mà không hết đau nhức. Bác sĩ nói thần kinh bị hư, phải mổ. Cạo gió mấy phút là hết đau nhức ngay.
Thế mới biết rất nhiều trường hợp đau nhức là do cảm lạnh. Vì vậy trước khi đi bác sĩ hay vào nhà thương, chúng ta nên áp dụng cách chữa bênh của ông bà cha mẹ, vừa dễ dàng, vừa rẻ tiền lại rất khoa học và công hiệu tức khắc, giúp giữ gìn sức khỏe và nhất là khỏi bị tàn tật oan.
Roma 9-1-2011
LM Giuse Hoàng Minh Thắng Roma

Thận trọng với sản phẩm có mùi hương nồng


 Bổ sung hương thơm vào các sản phẩm gia dụng là xu hướng trong sản xuất hàng tiêu dùng hiện nay. Thế nhưng "lợi bất cập hại", điều ấy không hẳn đã tốt cho sức khỏe con người.
  Tăng

Theo Thạc sĩ - bác sĩ Trần Anh Tuấn, Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP.HCM, mùi hương tinh dầu chiết xuất từ thiên nhiên rất đắt tiền nên không phải sản phẩm tiêu dùng nào cũng được sử dụng hương thơm có nguồn gốc thiên nhiên.
Bệnh từ “mùi hương”
Hương thơm thường mang đến cho con người cảm giác sảng khoái, dễ chịu. Vì vậy, sử dụng các sản phẩm có hương thơm là một nhu cầu từ bao đời nay, đặc biệt khi chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, vì tinh dầu chiết xuất từ thiên nhiên rất đắt tiền nên hiện nay đa phần các chất tạo mùi thơm tổng hợp là các loại hóa chất, như tinh dầu và este: Amyl axêtat, Amyl butyrat, êtyl butyrat, êtyl valerianat, êtyl pentacyonat và một số chất khác như aldehyt benzoic, nhựa thơm pêru, xitrol, vanilin, hêliotropin, cumarin, mentol… có nguồn gốc từ dầu mỏ.
1muithom.jpg
Cẩn trọng khi sử dụng nến thơm - Ảnh minh họa
Theo một khảo sát của Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ năm 1991, có đến 95% các hương thơm đang được sử dụng là hóa chất có nguồn gốc từ dầu mỏ thay vì hương liệu tự nhiên. Đặc biệt, rất nhiều chất trong các sản phẩm tạo mùi thơm có độc tính đối với cơ thể, như toluen, aceton, focmaldehit… Trong số này, có nhiều chất đã được chứng minh có thể gây ung thư, dị tật bẩm sinh, vô sinh, gây tổn thương hệ thần kinh. Vì vậy, khi sản phẩm có mùi càng thơm, mùi thơm càng tồn tại lâu thì lại càng có nhiều hoá chất.
Các ảnh hưởng này nhiều hay ít phụ thuộc vào bản chất và nồng độ của chất tạo mùi (nhưng vốn thường được giữ kín như một bí mật nghề nghiệp), mức độ và thời gian tiếp xúc cũng như cơ địa của từng người. Cả người lớn lẫn trẻ em đều có thể bị ảnh hưởng bởi hương thơm chứa các chất độc hại này nhưng trẻ em là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhiều nhất.
Ảnh hưởng từ “mùi hương hóa chất”
Tác động đầu tiên cần nói đến là ảnh hưởng trên đường hô hấp. Các mùi hương càng thơm, càng nồng có thể là tác nhân gây kích thích, phát triển cơn hen quan trọng dù bệnh nhân vẫn được dùng thuốc phòng ngừa đầy đủ. Bệnh nhân viêm xoang dị ứng cũng có thể trở nên khó điều trị nếu vẫn ngửi mùi thơm thường xuyên. Khoa học cũng đã phát hiện mối liên hệ của hóa chất thơm với tình trạng đột tử ở trẻ sơ sinh trong chứng co thắt đường thở do dị ứng.
Tình trạng dị ứng cũng có thể xảy ra khi dùng những chất có hương thơm trên da, dẫn đến viêm da tiếp xúc, chàm...
Ngoài việc tác động trên da hoặc đường hô hấp, các hóa chất tạo hương còn có thể thấm qua da và tích lũy trong cơ thể, gây nhiều tác động có hại. Đặc biệt, ở trẻ sơ sinh, do da rất mỏng nên các hóa chất sẽ dễ thấm qua hơn. Cơ thể trẻ cũng non yếu nên dễ bị ảnh hưởng hơn nhiều.
Hương thơm nhân tạo, đặc biệt khi có nguồn gốc dầu mỏ, còn có thể gây tình trạng nhạy cảm đa hóa chất, tình trạng này càng thường gặp nhiều hơn. Người bị hội chứng này khi tiếp xúc với một hóa chất có mùi nào đó sẽ bị nhức đầu, buồn nôn, mệt mỏi, thậm chí kích động, mất định hướng, rối loạn hoạt động cơ.
Nến thơm cũng có thể chứa độc tố
Sử dụng nến thơm hiện nay cũng là một trào lưu được nhiều người ưa chuộng, đặc biệt ở giới trẻ vì có ánh sáng trong một không gian thơm tho, lãng mạn. Một số loại nến có tinh dầu còn được giới thiệu có tác dụng thư giãn, giảm căng thẳng đầu óc, giảm stress. Tuy nhiên, cũng do tinh dầu tự nhiên có giá rất đắt, dễ bay hơi và không thể làm nến nếu không pha thêm chất ổn định khác nên đa số nến thơm có giá không đắt đều sử dụng các hương liệu tổng hợp tương tự như trên. Về nguyên tắc, nến có mùi càng thơm thì càng có nhiều hoá chất và càng có khả năng gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe con người.
Một nguy cơ nữa có thể gây hại cho người dùng là nến có lõi bấc bằng chì. Việc dùng dây kim loại (thường là chì) để làm lõi bấc sẽ giúp nến cháy thẳng, lâu, ngọn lửa đẹp nhưng lại không tốt cho sức khoẻ. Nhiễm độc chì có thể gây ra các vấn đề về thần kinh, gan, thận… và trẻ có nguy cơ chậm lớn.
Sử dụng an toàn là dùng sản phẩm ít mùi thơm
Các ảnh hưởng không tốt, thậm chí có hại nói trên, thường ít được chú ý đến và bị bỏ qua. Vì vậy, khó biết chính xác tần suất xảy ra thật sự của chúng là bao nhiêu nhưng trên thực tế không phải là hiếm.
Vì vậy, để giữ được sự an toàn khi sử dụng những sản phẩm này, trước hết, cần hạn chế tối đa dùng những sản phẩm với mùi thơm có nguồn gốc từ hóa chất. Nếu sử dụng, nên chọn  loại sản phẩm chỉ có mùi thơm nhẹ. Nên dùng lượng vừa phải để không ảnh hưởng sức khỏe bản thân và người xung quanh.
Khi trong nhà có người bị hen suyễn, viêm mũi dị ứng, trẻ nhỏ, chúng ta càng nên tránh dùng các loại có mùi thơm, đặc biệt là các sản phẩm thơm nồng. Nếu phải sử dụng, nên bắt đầu dùng ở mức độ ít  và chú ý quan sát xem có phản ứng gì lạ ở người trong nhà hay không.
Đối với trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh, cần tránh cho da trẻ tiếp xúc trực tiếp với các chất xịt phòng có mùi thơm, nhất là các mùi quá nồng.  
Nguyên Hạnh (Phụ nữ online)_

Canh Chua Bạc Hà: Lợi Hại Khó Lường! Tác nhân gây nên chứng gout





Với chuyên gia trong ngành dinh dưỡng thì bạc hà - thành phần chủ yếu trong món canh chua, là món ăn làm tăng acid uric không kém gì uống... bia! Ấy thế mà số người để ý đến khe hở này khi chẩn đoán và điều trị bệnh thống phong lại không nhiều.

Tác nhân gây nên chứng gout:
Nhiều người nay đã hiểu phần nào về bệnh thống phong (bệnh gout) do tăng chất acid uric trong máu khiến khớp ngón chân, ngón tay bị sưng đau đến độ kêu trời không thấu. Đó là chưa kể đến hậu quả khác như gai cột sống, sỏi thận, bệnh ngoài da... hay thường gặp hơn nữa là tình trạng mệt mỏi, đau không ra đau, bệnh không hẳn bệnh. Cũng có nhiều người đã biết tại sao chất acid uric, một loại phế phẩm từ chuỗi phản ứng thoái biến chất đạm thuộc nhóm purin, lại tăng cao trong máu rồi. Vì không được bài tiết kịp thời và đúng mức nên kết tủa trong khớp, trên đường tiết niệu, dưới da... làm khổ bệnh nhân, như trong trường hợp của những người:

- Hoại huyết như sau cơn sốt rét, sau lần chấn thương
- Ăn quá nhiều chất đạm từ lòng heo, da gà, cá mòi, lạp xưởng...
- Uống quá ít nước lại thêm thói quen nín tiểu trong giờ làm việc
- Bị bệnh biến dưỡng như tiểu đường, cường tuyến giáp...
- Lạm dụng dược phẩm như thuốc cảm, thuốc corticoid...
- Có bệnh trên đường tiết niệu như phì đại tiền liệt tuyến, viêm bàng quang...

Lạm dụng rượu bia.
Nhưng không phải ai cũng rõ là acid uric có thể tăng cao, thậm chí tăng rất cao ngay cả ở người không phạm vào các "trường quy" vừa kể.

Những kết quả vừa cập nhật

Từ nhận xét là không ít bệnh nhân bị tăng acid uric thấy rõ nhưng không hề uống bia, cũng không lạm dụng thịt mỡ, chúng tôi đã tiến hành một số khảo sát lâm sàng với kết quả như sau:

Trong số 20 người tuy cũng có thói quen ăn canh chua nhưng là canh chua măng, hay canh chua lá giang, thay vì bạc hà, thì tỷ lệ tăng acid uric trong máu chỉ là 15%.

Trong số 50 đối tượng có lượng acid uric trong máu cao hơn 7,5 mol (định mức sinh lý tối đa là 5,5 mol) nhưng không uống bia, không lạm dụng thịt mỡ, có 13 người ăn canh chua mỗi tuần tối thiểu 2 lần. Số còn lại, 37 đối tượng, đều có canh chua trong khẩu phần mỗi tuần tối thiểu 4 lần!

Phân tích tiền sử bệnh cho thấy 7 trong 10 trường hợp lên cơn đau như đau cắt ngang khớp kèm theo triệu chứng sưng nóng đỏ xảy ra sau một bữa cơm có canh chua bạc hà.

Trong nhóm thử nghiệm với 30 người có thói quen uống bia và đã bị bệnh gout với xét nghiệm sinh hoá rõ rệt, tất cả đối tượng thường có món canh chua bạc hà trong bữa ăn đều có hàm lượng acid uric cao hơn nhóm không mạnh miệng với món này.

Trị số xét nghiệm của 14 trong số 20 người trước đó có lượng acid uric trong máu trong khoảng 6,5 đến 7,5 mol trở lại bình thường sau hai tuần không ăn canh chua bạc hà mà không cần dùng thuốc.

Trên hai nhóm thử nghiệm trong 10 ngày liên tục, mỗi nhóm với hai mươi đối tượng đều được điều trị bằng Zyloric 200 x 2 viên/ngày, có thể giảm thiểu đến phân nửa lượng thuốc hàng ngày trên nhóm cữ canh chua bạc hà nhưng hiệu năng vẫn tương đồng với nhóm đối chiếu có món canh chua một lần mỗi 2 ngày.

Hai tháng sau khi đã điều trị ổn định, khi kiểm soát lượng acid uric trong máu cho thấy hiện tượng tái phát chỉ xảy ra ở 7 trong số 30 bệnh nhân ăn canh chua bạc hà một cách tiết độ theo kiểu mỗi tuần 1 lần mà thôi.

Tóm lại, canh chua bạc hà rõ ràng là món ăn có mối liên hệ mật thiết với tình trạng tăng acid uric trong máu.

Nhưng nếu phải kiêng món canh chua bạc hà cá bông lau với vị ngọt, chua, cay pha trộn độc đáo thì thà đừng là người... Việt! Ăn món canh chua mà loại bỏ bạc hà thì thà chọn món khác còn hơn! Nhưng chủ động giảm bớt số lần có món canh chua bạc hà trên bàn ăn nếu đã bị bệnh gout, hay khi lượng acid uric đã mấp mé giới hạn bệnh lý, là quyết định vừa chính xác vừa khôn khéo
.


Hoàng Nam sưu tầm

Những bài thuốc hay từ bồ kết


     Bồ kết hay là chùm kết, mọc hoang và được trồng khắp nơi. Bộ phận dùng: quả gọi là tạo giác; gai gọi là tạo giác thích và hạt bồ kết gọi là tạo giác tử.
Bồ kết được dùng chữa các bệnh:
Động kinh, đờm nghẹt cổ, hen suyễn khò khè: lấy quả bồ kết đốt tồn tính, phèn chua phi, 2 thứ lượng bằng nhau. Ngày uống 3 – 6g, chia nhiều lần, mỗi lần 0,5g cho ra đờm thì dừng.Chữa ho suyễn: bồ kết 1g, cam thảo 1g, đại táo 1g, gừng sống 1g. Đổ 600ml nước, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Lở loét trên đầu, u nhọt, rụng tóc: đốt bồ kết thành than, tán nhỏ, đắp lên nơi nhọt.

Trị trúng thử (cảm nắng nóng) bất tỉnh: bồ kết 40g, sao tồn tính; cam thảo 40g, sao qua, nghiền nhỏ, uống 40g với nước ấm.Trị họng sưng đau: bồ kết 1 nắm, bỏ vỏ, ngâm dấm nướng, làm 7 lần, không cho cháy quá, sau đó nghiền nhỏ, dùng chút ít thổi vào họng, làm nhiều lần cho nôn ra dãi, nước bọt là khỏi. Bệnh động kinh do phong tà: bồ kết sao tồn tính 160g, mật đà tăng 40g, rễ, lá, thân cây ké đầu ngựa khô 160g, tất cả phơi khô, nghiền nhỏ, hòa nước cháo giã nhuyễn viên bằng hạt ngô, lấy chu sa làm áo. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 30 viên uống với nước táo tàu. 3 ngày sau giảm dần còn 20 viên.
Bồ kết trị trúng phong, động kinh 1

Cước khí sưng đau: bồ kết, xích tiểu đậu, lượng bằng nhau, nghiền nhỏ, hòa rượu và dấm đắp chỗ đau.
Trị cảm thương hàn mới mắc, sốt; không phân biệt âm chứng hay dương chứng: dùng 1 nắm bồ kết, sao, rồi nghiền nhỏ hòa với nước chín mà uống.
Trị bỗng nhiên váng đầu hoa mắt: dùng bột bồ kết thổi mũi cho hắt hơi là khỏi.
Đinh thũng ác sang: bồ kết bỏ vỏ, dầm dấm, nướng cháy rồi nghiền nhỏ cho vào chút ít xạ hương rồi đồ. Sau 5 ngày ngòi đinh lòi ra.
Đại tiểu tiện không thông: bồ kết sao nghiền nhỏ, uống 15g với nước ấm.
Trị đau răng do phong nhiệt: lấy 1 quả bồ kết, bỏ hạt, rồi cho muối vào đầy quả bồ kết, thêm tí phèn chua, lấy đất sét vàng buộc chặt rồi đem nung lửa, lấy ra nghiền bột. Mỗi ngày lấy bột bồ kết xát vào răng; rất công hiệu.
Trị răng đau do sâu: dùng bột bồ kết xát lên chỗ sâu răng, có dãi thì nôn nhổ ra. Hoặc dùng bồ kết và muối ăn, lượng bằng nhau, nghiền nhỏ, ngày xát vào chỗ răng sâu gây đau nhiều lần. Hoặc bột hạt bồ kết cho vào miếng vải mỏng mềm, gói lại bằng ngón tay cho vào dấm đun nóng ngậm ngày 3 – 5 lần.
Trị đại tràng lòi dom: lấy 5 quả bồ kết giã nhỏ ngâm với 2 lít nước sôi, để nguội dần, đựng vào chậu to rồi ngồi ngâm vào nước bồ kết, dom sẽ tự co lên. Sau khi dom đã co thì nấu nước bồ kết rửa eo lưng, bụng trên, bụng dưới, để khí bồ kết thông hành thì không bị trở lại nữa.
Trị lỵ amip mạn tính: bột quả bồ kết và phèn phi, lượng bằng nhau, ngày dùng 2g chia uống 2 lần. Hoặc hạt bồ kết sao vàng tán bột luyện viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10 – 12 viên vào sáng sớm.
Vùng dương vật đau 1 bên: dùng bồ kết sao qua nghiền nhỏ hòa nước đắp vùng đau.
Bí đại tiện, trướng bụng, bí tiểu tiện: bồ kết đốt tồn tính tán bột trộn với dầu lạc hoặc dầu vừng, tẩm bông đút vào hậu môn, mỗi lần 0,2g, làm vài ba lần cho trung tiện và thông đại tiểu tiện.
Trị trường phong ra máu: dùng hạt bồ kết, hạt hòe đều 40g, cho vào cùng cám gạo sao cho thơm, bỏ cám, thuốc nghiền nhỏ. Mỗi lần uống 4g với nước cơm.
Trị trẻ chảy dãi, tỳ nóng có đờm: hạt bồ kết 20g, bán hạ tẩm nước gừng sao khô (làm 7 lần) 4g. Cùng nghiền nhỏ, hòa nước gừng giã nhuyễn viên bằng hạt tiêu. Ngày uống 1 lần 1 viên với nước ấm.
Trị lỵ cấp: dùng hạt bồ kết sao qua với cám gạo cùng với chỉ xác sao, 2 thứ lượng bằng nhau, nghiền nhỏ viên với nước cơm bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 30 viên với nước cơm.
Trị mặt sạm đen nổi mụn: dùng hạt bồ kết và hạnh nhân, lượng bằng nhau, nghiền đều. Hòa nước bôi mặt, mụn vào buổi đêm.
Trị đái dắt, không đi tiểu được: gai bồ kết sao tồn tính, phá cố chỉ, 2 thứ lượng bằng nhau, nghiền nhỏ uống với rượu.

___oOo___
Theo Lương y Minh Chánh, KTOnline